Hệ thống tài chính Mỹ đổ vỡ do lỗi của kế toán giá trị hợp lý (MTM) (Phần 1)
Đã đọc: 1803 lượt.Đăng ngày: 26.12.2009 15:55
Các nhà đầu tư và giám đốc điều hành doanh nghiệp không đồng ý với cách định giá những loại tài sản bị tịch biên. Tuy nhiên, có thể họ không nhất thiết phải đồng ý. Vậy đâu là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện tại?
Các khoản nợ cầm cố dưới chuẩn, hợp
đồng hoán đổi khả năng vỡ tín dụng, hay tình trạng nợ nần chồng chất? Steve
Forbes, Chủ tịch của Forbes Media và từng là một nghị viên, cho rằng nguyên
nhân không nằm ở bất kỳ khoản nào nêu trên cả. Theo góc nhìn của ông, nghiệp vụ
hạch toán mark-to-market (MTM) chính là "nguyên nhân chủ yếu" dẫn đến
sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ vào năm 2008.
Liệu các nguyên lý kế toán thực sự
chịu trách nhiệm cho sự sụp đổ ấy? Với những độc giả không quen thuộc với các
thuật ngữ tài chính, nghiệp vụ MTM là hoạt động tái đánh giá một tài sản theo
chu kỳ từng quý dựa trên mức giá thu được từ việc bán tài sản này trên thị
trường mở, bất kể khoản thu thực sự là bao nhiêu. Bởi vì hoạt động này cho phép
không có một đánh giá nào lỗi thời hay có tính mơ tưởng, nên nó là một thành tố
chính của cái gọi là phương pháp kế toán giá trị hợp lý. Đồng thời, nó là trung
tâm của những tranh luận nóng bỏng nhất về kế toán trong nhiều thập niên qua.
Nhiều chủ ngân hàng bắt đầu công
kích phương pháp kế toán giá trị hợp lý khi tình trạng tắt nghẽn đột ngột của
thị trường tín dụng vào mùa thu năm 2008 đã đưa mức giá cân bằng của những tài
sản trọng yếu mà các định chế đang nắm giữ xuống thấp đến mức chưa từng có. Nhà
kinh tế học Brian Wesbury nói hộ quan điểm của nhóm này khi ông tuyên bố rằng "các
nguyên tắc hạch toán MTM đã khiến một vấn đề lớn trở nên khổng lồ. Phần lớn các
khoản nợ cầm cố, trái phiếu doanh nghiệp và nợ cơ cấu vẫn còn phát huy được tác
dụng ban đầu. Tuy nhiên, vì thị trường đã đóng băng nên giá của các loại tài
sản này rơi xuống dưới giá trị thật của chúng".
Wesbury và Forbes lập luận rằng
nghiệp vụ hoạch toán MTM đã đẩy nhiều ngân hàng đến bờ vực phá sản và buộc họ
phải giải chấp tài sản ở mức giá bán tống bán tháo, và điều này còn khiến cho
giá trị rơi sâu thêm. Những lập luận này đã thuyết phục được nhiều chính trị
gia ở Mỹ và châu Âu lên tiếng kêu gọi đình chỉ phương pháp kế toán giá trị hợp
lý mà thay vào đó, sử dụng phương pháp kế toán giá gốc mà theo đó, tài sản sẽ
được định giá theo giá mua hoặc giá gốc.
Tuy nhiên, vẫn có nhiều người ủng hộ
nghiệp vụ kế toán MTM, những người cũng có thái độ cứng rắn không kém. Lisa
Koonce, giáo sư chuyên ngành kế toán của trường ĐH Texas, đã viết trong tạp chí Texas như sau: "Đây chỉ đơn giản
là trường hợp buộc tội người đưa tin. Phương pháp kế toán giá trị hợp lý không
phải là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện tại. Trái lại, nó kết nối ảnh
hưởng của các quyết định sai lầm như cấp phép cho những khoản vay dưới chuẩn và
soạn thảo các bản hợp đồng hoán đổi khả năng vỡ tín dụng... Về giải pháp được
cho là có khả năng thay thế, giữ các khoản vay trong sổ cái với giá trị ban đầu
của chúng thì cũng giống như phớt lờ thực tế vậy".
Các nhóm cổ đông còn đi xa hơn thế
khi quả quyết rằng nghiệp vụ MTM càng trở nên cần thiết trong môi trường ngày
nay. Nhóm tư vấn đầu tư của Financial Accounting Standards Board (FASB) (Ủy ban
tiêu chuẩn kế toán tài chính) còn nhấn mạnh rằng: "Các thông tin về giá
trị hợp lý có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với những nhà cung cấp vốn và những ai
sử dụng các báo cáo tài chính trong giai đoạn thị trường bấp bênh và kèm theo
đó là tình trạng khủng hoảng tính thanh khoản". Theo quan điểm này, nếu
các ngân hàng không biểu thị trái phiếu của họ theo thị trường, các nhà đầu tư
sẽ cảm thấy không chắc chắn về giá trị tài sản và do đó, ngại ngần hỗ trợ tái
cấu trúc vốn cho các định chế đang gặp khó khăn.
Vậy nhóm nào đưa ra được lời giải
đúng? Có lẽ là không nhóm nào cả. Chúng ta không muốn các ngân hàng phá sản bởi
sự suy giảm ngắn hạn về giá của các chứng khoán liên quan đến nợ cầm cố. Chúng
ta cũng không muốn che giấu nhà đầu tư về những khoản lỗ của ngân hàng và trì
hoãn việc loại bỏ các tài sản độc hại - giống như điều đã từng xảy ra ở Nhật
Bản trong thập niên 1990. Để đáp ứng nhu cầu chính đáng của chủ ngân hàng lẫn
nhà đầu tư, các nhà chức trách nên tiến hành những phương pháp tiếp cận đa
chiều với hoạt động báo cáo tài chính.
Trước khi chúng ta bắt đầu áp dụng
những cải cách hợp lý, chúng ta trước hết cần xóa sạch những quan niệm sai lầm
về các phương pháp kế toán. Nhiều nhà phê bình thường bày tỏ sự phản đối trước
yêu cầu phải bút toán giảm các tài sản đã tổn thất về giá trị hợp lý của chúng,
nhưng trên thực tế, tài sản tổn thất là một khái niệm quan trọng với kế toán
giá gốc hơn với kế toán giá trị hợp lý. Nhiều nhà báo đã giả định một cách
không chính xác rằng hầu hết tài sản của ngân hàng được báo cáo theo giá trị
thị trường hợp lý chứ không phải theo giá gốc. Tương tự, nhiều chính trị gia
cho rằng hầu hết các tài sản có tính thanh khoản thấp phải được định giá theo
giá thị trường dù nhiều nguyên tắc của FASB lại quy định điều trái ngược. Những
chuyện tưởng như hoang đường sau sẽ đưa ra một số nghiên cứu gần gũi.
Câu chuyện 1: Kế toán giá gốc không
có mối liên hệ nào với giá trị thị trường hiện tại
Những người khởi xướng giá trị hợp
lý lập luận rằng giá gốc của các loại tài sản thể hiện trong bảng quyết toán
của công ty thường hầu như không có mối liên hệ nào với giá trị hiện tại của
chúng. Theo các nguyên tắc kế toán giá gốc, hầu hết tài sản được tính theo giá
mua hoặc giá gốc, với một số điều chỉnh nhỏ về các khoản giảm giá trong vòng
đời của nó (như trường hợp của các tòa nhà) hay tăng giá đến trước thời điểm
đáo hạn (như trường hợp trái phiếu chiết khấu về mệnh giá). Do đó, một tòa nhà
thuộc sở hữu của một công ty suốt nhiều thập niên sẽ xuất hiện trong sổ sách
với một giá trị thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực của nó ở thị trường hiện
tại.
Tuy nhiên, thậm chí khi theo kế toán
giá gốc, những giá trị trong thị trường hiện tại vẫn được xem như một nhân tố
trong các báo cáo tài chính. Các nhà chức trách Mỹ yêu cầu tất cả các công ty
kinh doanh đại chúng phải ra soát cẩn thận tài sản của mình theo từng quý để
chắc chắn rằng chúng đã bị tổn thất hay không - tức là liệu giá trị thị trường
của chúng có thấp hơn giá gốc của chúng trong một thời gian dài hay không. Nếu
tổn thất này không mang tính tạm thời, công ty phải ghi giá trị thị trường hiện
tại của tài sản trong bảng quyết toán - và ghi các khoản lỗ tương ứng vào báo
cáo thu nhập của công ty.
Những tổn thất tài sản vĩnh viễn
thường xuyên xuất hiện trong kế toán giá gốc. Chỉ riêng năm 2008, theo báo cáo
của Sandler O'Neill & Partners, các ngân hàng Mỹ đã thực hiện bút toán giảm
hơn 25 tỷ USD ở dạng lợi thế thương mại từ các thương vụ mua lại vốn đã không
còn đáng với giá trị ban đầu nữa. Một ví dụ khác ngoài lĩnh vực ngân hàng là
Cimarex Energy, công ty dù vẫn ghi được lợi nhuận hoạt động những phải tuyên bố
lỗ trong quý một năm 2009 do các chi phí tổn thất tài sản phi tiền mặt lên đến
hơn 500 triệu USD (đã tính thuế) đối với các bất động sản dầu và khí của công
ty này.
Điểm mấu chốt là dù dưới chế độ kế
toán giá gốc, các định chế tài chính sau cùng sẽ bị buộc phải báo cáo bất kỳ
khoản giảm vĩnh viễn nào về giá trị thị trường của các khoản vay và chứng khoán
mặc dù quá trình này diễn ra chậm hơn và với khối lượng lớn hơn so với khi áp
dụng chế độ kế toán giá trị hợp lý. Hầu hết các giám đốc ngân hàng đều từ chối
hình thức bút toán giảm này với lập luận rằng tổn thất của một khoản vay hay
trái phiếu bảo đảm bằng tài sản cầm cố nào đó chỉ là tạm thời. Tuy nhiên, khi
cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài và tốc độ vỡ nợ cầm cố liên tục tăng nhanh,
các chủ ngân hàng phải đối mặt với áp lực ngày càng cao từ kiểm toán viên bên
ngoài và buộc phải thừa nhận các khoản lỗ vĩnh viễn của những tài sản tài
chính.
Câu chuyện 2: Hầu hết tài sản của
các định chế tài chính đều quy theo thị trường
Những ai ra sức kết tội phương pháp
kế toán giá trị hợp lý thường lập luận rằng các định chế tài chính sẽ chứng
kiến phần lớn tài sản của mình được xác định theo giá trị trường mà hiện ngày
càng tụt giảm. Trên thực tế, theo một nghiên cứu của SEC vào cuối năm 2008, chỉ
31% tài sản ngân hàng được định giá theo cách này, phần còn lại được tính theo
giá gốc.
Vì sao? Theo phương pháp kế toán giá
hợp lý, ban quản lý phải chia tất cả khoản vay và chứng khoán thành nhiều nhất
là ba nhóm tài sản: tài sản hiện nắm giữ, tài sản hiện được kinh doanh và tài
sản sẵn sàng để bán. Nếu ban quản lý có ý định và khả năng nắm giữ các khoản
vay hay chứng khoán đến khi đáo hạn, những tài sản này sẽ được ghi bằng giá gốc
trong sổ sách kế toán. Hầu hết các khoản vay và nhiều loại trái phiếu được giữ đến
khi đáo hạn; người ta chỉ ghi bút toán giảm khi chúng bị tổn thất vĩnh viễn.
Ngược lại, tất cả tài sản được kinh
doanh đều được ghi theo giá thị trường theo từng quý. Bất kỳ khoản giảm nào
trong giá trị thị trường hợp lý của một tài sản mà ngân hàng nắm giữ sẽ làm
giảm phần vốn trong bảng quyết toán và được ghi như một khoản lỗ trong bảng báo
cáo thu nhập. Lấy một minh họa đơn giản: một ngân hàng mua lượng trái phiếu trị
giá 1 triệu USD và giá thị trường của lượng trái phiếu này sau đó giảm xuống
còn 900.000 USD vào cuối quý sau đó. Dù ngân hàng không bán lượng trái phiếu đó
đi nhưng trong cột tài sản bên trái bảng quyết toán vẫn xuất hiện khoản giảm
100.000 USD, và cột nguồn vốn bên phải cũng xuất hiện khoản giảm tương ứng
(trước khi tính các khoản thuế). Khoản ghi giảm này cũng sẽ lưu chuyển qua bảng
báo cáo thu nhập của ngân hàng và được báo cáo như một khoản lỗ trước thuế của
quý đó với trị giá tính toán là 100.000 USD.
Nghiệp vụ kế toán cho nhóm tài sản
thứ ba - tài sản sẵn sàng để bán - còn phức tạp hơn nhiều. Dù các dạng chứng
khoán nợ trong nhóm này được định giá theo thị trường cách mỗi quý nhưng các
khoản lời hay lỗ chưa thực hiện phát sinh từ chúng được thể hiện thành một tài
khoản đặc biệt trong bảng báo cáo thu nhập của ngân hàng (gọi là "tài khoản
OCI [1]") và tăng dần theo thời gian trong bảng quyết toán (gọi là
"OCI tích lũy"). Nhờ nghiệp vụ đặc biệt này, các khoản lỗ chưa thực
hiện nếu phát sinh cũng không làm giảm thu nhập ròng hay vốn điều lệ của ngân
hàng. (Trong khi đó, những khoản vay giữ-để-bán phải được ghi với giá thấp hơn
giá gốc hay giá thị trường và bất kỳ khoản giảm giá nào phát sinh cũng phải
được thể hiện thành khoản lỗ trên bảng báo cáo thu nhập. Tuy nhiên các loại tài
sản này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nhóm). SEC cũng nghiên cứu thấy gần
một phần ba của 31% lượng tài sản định giá theo thị trường của ngân hàng là các
dạng trái phiếu nợ sẵn-sàng-để-bán. Theo đó, lượng tài sản định giá theo thị
trường có ảnh hưởng đến thu nhập hay vốn điều lệ của ngân hàng chỉ là 22% vào
năm 2008, một con số vẫn còn khiêm tốn.
Câu chuyện 3: Tài sản phải được định
giá theo giá thị trường hiện tại cho dù thị trường của những tài sản này không
có tính thanh khoản
Phương pháp kế toán giá trị hợp lý
sẽ dễ thực hiện nếu như tất cả tài sản tài chính đều thuộc Cấp 1 của FASB, tức
có tính thanh khoản cao và dễ định giá theo giá thị trường trực tiếp. Vì không
phải lúc nào các loại tài sản cũng hội đủ những đặc điểm này nên FASB tạo ra
một tiêu chuẩn gọi là FAS 157 mà cho phép có thể có 2 cấp khác.
Tiêu chuẩn này quy định: bất cứ khi
nào có thể, tài sản phải được định giá theo phương pháp Cấp 1: theo cơ sở giá
thị trường có thể quan sát được. Nhưng tiêu chuẩn này cũng thừa nhận không phải
lúc nào cũng có được giá thị trường, vì thế, nó cho phép các giám đốc tài chính
định giá tài sản của mình bằng các yếu tố đầu vào của thị trường mà có thể quan
sát được, đây là phương pháp Cấp 2. Các yếu tố đầu vào này có thể bao gồm: giá
giao dịch và các khoản chiết khấu của những chứng khoán nào tương tự hay có
liên hệ với những tài sản cần được định giá. Khi những yếu tố đầu vào này không
sẵn có, ví dụ như khoản đầu tư vào một quỹ đầu tư tư nhân, tài sản sẽ được định
giá theo phương pháp Cấp 3.
Khi những tài sản giao dịch được
phân vào Cấp 3, vì thị trường thiếu tính thanh khoản hay vì những lý nào khác,
các giám đốc tài chính sẽ được phép đánh giá chúng theo phương pháp "quy
theo mô hình" chứ không phải quy theo thị trường (MTM). Khi đánh giá tài
sản theo mô hình, các giám đốc tài chính có thể sử dụng những giả định hợp lý
của mình để ước tính ra một giá trị thị trường hợp lý.
Khi các thị trường nợ đóng băng vào
mùa thu năm 2008, FASB công bố một tài liệu nội bộ có nội dung hướng dẫn áp
dụng phương pháp kế toán giá trị hợp lý vào những thị trường có tính thanh
khoản thấp. Tài liệu này nhấn mạnh tính linh hoạt của tiêu chuẩn 157 và khiến
nhiều công ty nhận thức được họ có thể phân loại lại tài sản từ Cấp 2 sang Cấp
3 nếu như tính thanh khoản của thị trường càng suy yếu. FASB còn nhấn mạnh rằng
các công ty không được sử dụng các mức giá lấy từ những hợp đồng mua bán bắt
buộc hay dành cho tài sản bị tịch biên để định giá các tài sản không có tính
thanh khoản.
Tuy nhiên, những quy tắc này không
khiến các chủ ngân hàng cảm thấy thoải mái để có thể chứng kiến giá trị thị
trường của những tài sản độc hại mà họ đang nắm giữ tuột dốc không phanh; họ
gây sức ép lên những nghị viên do họ bầu chọn, những người đã đe dọa biết các
tiêu chuẩn kế toán thành luật trừ khi FASB có nhiều giải pháp hơn để xoa dịu
tình hình. Kết quả là vào tháng 4 năm 2009, FASB nhanh chóng đề xuất và áp dụng
một nguyên tắc mới vạch rõ các tiêu chuẩn cần thiết để xác định đâu là lúc áp
dụng hình thức đánh giá quy-theo-mô-hình khi tính thanh khoản của thị trường
xuống thấp. Nguyên tắc này được thiết kế để cho phép ngân hàng định giá nhiều
loại chứng khoán hơn bằng các mô hình thay cho những chỉ số thị trường. Cũng
trong ngày hôm đó, FASB ban hành một nguyên tắc khác quy định cách tính các
loại chứng khoán bị tổn thất vĩnh viễn. Nguyên tắc này nêu rõ chỉ phần
lỗ-tín-dụng của những tổn thất này mới ảnh hưởng đến thu nhập và vốn điều lệ
của ngân hàng, trong khi phần còn lại (chẳng hạn như các khoản lỗ chưa thực
hiện liên quan đến tính thanh khoản thấp) sẽ đi vào tài khoản đặc biệt OCI.
Hai nguyên tắc giúp nhiều ngân hàng
lớn của Mỹ cắt giảm đáng kể quy mô khoản bút toán giảm trên giá trị của những
tài sản có trong quý đầu năm 2009. Hai nguyên tắc này giúp cải thiện bức tranh
tài chính ngắn hạn của những ngân hàng lớn mặc dù nó ngăn không cho các giám
đốc ngân hàng bán tháo những tài sản độc hại ở mức giá mà các nhà đầu tư nghĩ
là hợp lý.
(còn nữa)
- Bài viết của Robert C. Pozen trên
Harvard Business Review -
Hoàng Đăng(dịch)
1. Có thể hiểu OCI là một bảng báo
cáo thu nhập "con", thể hiện những thay đổi về giá của các khoản tài
sản hay nợ mà công ty đang nắm giữ mà từ đó làm phát sinh các khoản lời hay lỗ
chưa thực hiện. Các loại tài sản ở đây là chứng khoán, hợp đồng phái sinh, nợ
hưu trí và tài sản hoạt động ở nước ngoài.